Thứ Hai, ngày 02 tháng 6 năm 2014

Dàn ý Kiện Trung Quốc về việc đòi Hoàng Sa và Trường Sa, bảo vệ trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.

Nơi gửi Tòa án Công Lý Quốc tế

Nguyên đơn:           Cộng Hòa Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam
       Bị đơn:                    Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

     Đối tượng tranh chấp: Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa


Phần I. Lý do kiện

 Quy mô Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc  chiếm giữ, tranh chấp ở Biển Đông ngày càng lan rộng và không có hồi kết mặc dù hiện nay trên thế giới đã có  Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (
UNCLOS), Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Các nước ASEAN đều mong muốn sớm xây dựng COC như là một công cụ hiệu quả để duy trì hoà bình ổn định, ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông nhưng Nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc liên tục trì hoãn. 
Bị đơn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã tiến hành có chủ ý và hệ thống dùng vũ lực  để chiếm giữ có tang chứng Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 dù  Việt Nam Cộng hòa lúc bấy giờ đã  phản đối bằng sự chống trả vũ lực cùng  văn bản ngoại giao. Sau đó Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( trước kia là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa  thống nhất đất nước ) cũng phản đối các vụ Trung Quốc dùng vũ lực chiếm một số đảo ở quần đảo Trường Sa năm 1988 gây thương vong cho nhiều lính hải quân Việt Nam và các năm sau đó.
Hiện tại, phía  Bị đơn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa  đang đưa  giàn khoan HD 981, nhiều  tàu quân sự, tàu hộ tống, tàu Hải giám, Hải cảnh đến khu vực này và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để đâm húc, phá hoại và tấn công phương tiện, con người của phía Nguyên đơn. Đó là những hành vi  bằng vũ lực, thách thức dư luận và cộng đồng quốc tế, vi phạm khoản 1 điều 33 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, vi phạm  tôn chỉ  và điều 19 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982, .
Tình hình an ninh,kinh tế, ổn định của Việt Nam và cả khu vực bị thiệt hại,  đe dọa. Nguy cơ xảy ra chiến tranh toàn cầu rất cao đã được các nhà bình luận, quan sát chính trị quốc tế cảnh báo.  Các cuộc họp cấp cao của các nước ASIAN, các cuộc gặp gỡ và phát ngôn của các chính khách hàng đầu của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Malaysia …. đã nêu ra hành vi đe dọa hòa bình và an ninh khu vực và thế giới  từ phía  Nhà nước Trung Quốc liên quan đến tranh chấp ở 2 khu vực quần đảo Hoàng Sa va Trường Sa.
Ngoài ra Nhà nước CHXHCN Việt Nam cho rằng phía Bị đơn đã vi phạm điều 4 của Tuyên bố Ứng xử trên Biển Đông của ASEAN (DOC). Trên tinh thần các bên cùng chấp nhận nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) và  hoàn cảnh không những không tạo ra sự chờ đợi hòa bình mà còn tạo ra sự đe dọa hòa bình ngày càng cao hơn,
nên Nhà nước Việt Nam  không còn lựa chọn nào khác là phải nhờ Tòa án Quốc tế phân xử.

Phần II . Những cơ sở pháp lý  không tranh cãi:
       1.  Căn cứ điều 2.3  Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
Tất cả các thành viên Liên Hợp Quốc sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình, sao cho không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý;
         2. Căn cứ theo Điều 33.  Hiến chương Liên Hiệp Quốc
1. Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình.
        3. Căn cứ điều 36. Quy chế Tòa án quốc tế
1. Tòa án tiến hành xét tất cả các vụ tranh chấp mà các bên đưa ra và tất cả các vấn đề được nêu riêng trong hiến chương Liên hợp quốc hay các điều ước quốc tế hiện hành.

     4. Căn cứ điều 15. Việc hoạch định ranh giới lãnh hải giữa các quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau
Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác.
5. Căn cứ điều 19. Nghĩa của thuật ngữ “đi qua không gây hại” (Passage inoffensif)
1. Việc đi qua là không gây hại, chừng nào nó không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển. Việc đi qua không gây hại cần phải được thực hiện theo đúng với các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế.
6. Căn cứ điều 59. Cơ sở giải quyết các tranh chấp trong trường hợp Công ước không quy định rõ các quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền về kinh tế
Trong những trường hợp Công ước không quy định rõ các quyền hay quyền tài phán trong các vùng đặc quyền về kinh tế cho quốc gia ven biển hay cho các quốc gia khác và ở đó có xung đột giữa lợi ích của quốc gia ven biển với lợi ích của một hay nhiều quốc khác thì sự xung đột này phải được giải quyết trên cơ sở công bằng và có chú ý đến tất cả mọi hoàn cảnh thích đáng, có tính đến tầm quan trọng của các lợi ích có liên quan đó đối với các bên tranh chấp và đối với toàn bộ cộng đồng quốc tế.
7. Căn cứ điều 74. Hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau
1. Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diên nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở Điều 38 của Quy chế Tòa án quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng.
2. Nếu không đi tới được một thỏa thuận trong một thời gian hợp lý thì các quốc gia hữu quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV.
8. Căn cứ điều 138. Cách xử sự chung của các quốc gia liên quan đến Vùng
Trong cách xử sự chung liên quan đến Vùng, các quốc gia tuân theo phần này, các nguyên tắc được nêu trong Hiến chương Liên Hợp quốc và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế, với sự quan tâm giữ gìn hòa bình và an ninh, đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế và hiểu biết lẫn nhau.
9. Căn cứ điều 286. Phạm vi áp dụng mục này
Với điều kiện tuân thủ Mục 3, mọi tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước khi không được giải quyết bằng cách áp dụng Mục 1, theo yêu cầu của một bên tranh chấp, đều được đưa ra trước tòa án có thẩm quyền theo mục này.
10. Căn cứ điều 288. Thẩm quyền
1. Một tòa án đã nêu ở Điều 287 có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước đã được đưa ra cho mình theo đúng phần này.
2. Một tòa án nói ở Điều 287 cũng có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng một điều ước quốc tế có liên quan đến các mục đích của Công ước và đã được đưa ra cho mình theo đúng điều ước này.
3. Viện giải quyết tranh chấp liên quan đến đáy biển được lập nên theo đúng phụ lục VI và bất kỳ viện nào khác, hay tòa trọng tài nào khác, đã nêu ở Mục 5 của Phần XI, đều có thẩm quyền xét xử mọi vấn đề đã được đưa ra cho mình theo đúng mục đó.
4. Trong trường hợp có sự tranh cãi về vấn đề một tòa án có thẩm quyền hay không, thì vấn đề này do tòa án đó quyết định.

11. Căn cứ điều 290. Những biện pháp bảo đảm
1. Nếu một tòa án được đề nghị xét một vụ tranh chấp theo đúng thủ tục và thấy prima facie (hiển nhiên) là mình có thẩm quyền theo phần này hay Mục 5 của phần XI, thì tòa án này có thế qui định tất cả các biện pháp bảo đảm mà mình xét thấy thích hợp với tình hình để bảo vệ các quyền riêng của từng bên tranh chấp hay để ngăn không cho môi trường của biển bị những tổn thất nghiêm trọng, trong khi chờ quyết định cuối cùng.
2. Các biện pháp bảo đảm có thể bị sửa đổi hay hủy bỏ ngay khi các hoàn cảnh chứng minh cho các biện pháp đó thay đổi hay không còn tồn tại.
3. Các biện pháp bảo đảm chỉ có thể được qui định, sửa đổi hay hủy bỏ theo điều này, theo yêu cầu của một bên tranh chấp và sau khi đã tạo cho các bên tranh chấp khả năng thỏa thuận được với nhau.
4. Toà án thông báo ngay mọi biện pháp bảo đảm hay mọi quyết định sửa bỏ hay hủy bỏ biện pháp đó cho các bên tranh chấp, và nếu xét thấy thích hợp, thì thông báo cho các quốc gia thành viên khác.
5. Trong khi chờ lập ra một tòa trọng tài xét xử một vụ tranh chấp theo mục này, mọi tòa án do các bên thỏa thuận với nhau chỉ định, hoặc, nếu không thỏa thuận được trong một thời hạn 2 tuần sau ngày có yêu cầu các biện pháp bảo đảm. Toà án quốc tế về luật biển, hay trong trường hợp của các hoạt động tiến hành trong Vùng, Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển, có thể quy định, sửa đổi hay hủy bỏ các biện pháp bảo đảm theo đúng điều này, nếu như họ thấy prima facie (hiển nhiên) rằng tòa án cần được lập ra sẽ có thẩm quyền, và nếu như họ xét thấy rằng tính chất khẩn trương của tình hình đòi hỏi phải làm như vậy. Một khi được thành lập, tòa án được giao xét xử vụ tranh chấp, hành động theo đúng các khoản 1 đến 4, có thể sửa đổi, hủy bỏ hay xác nhận biện pháp bảo đảm này.
6. Các bên tranh chấp phải tuân theo không chậm trễ các biện pháp bảo đảm được quy định theo điều này.
12. Căn cứ Điều 301. Việc sử dụng biển vào những mục đích hòa bình
Trong việc thực hiện các quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình theo đúng Công ước, các quốc gia thành viên tránh dựa vào việc đe dọa hay sử dụng vũ lực để xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của mọi quốc gia hay tránh cùng bất kỳ cách nào khác không phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc.
       13. Căn cứ Điều 38. Quy chế Tòa án quốc tế
1. Tòa án, với chức năng là giải quyết phù hợp với luật quốc tế các vụ tranh chấp được chuyển đến Tòa án, sẽ áp dụng:
a. Các điều ước quốc tế, chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận;
b. Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận như những quy phạm pháp luật;
c. Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận
d. Với những điều kiện nêu ở điều 59, các án lệ và các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác nhau được coi là phương tiện để xác định các qui phạm pháp luật.
2. Quyết định này không nằm ngoài quyền giải quyết vụ việc của Tòa án, xác định như vậy (ex aequo et bono), nếu các bên thỏa thuận điều này.
        14. Căn cứ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) của Trung Quốc với các nước ASEAN
15. Căn cứ sự công nhận và thiết lập quan hệ Việt Nam-Trung Quốc liên tục từ 18/1/1950 đến nay.
16. Căn cứ những tài liệu, văn bản (mà phía Việt Nam biết được) không có hiệu lực pháp lý mà Nhà nước Trung Quốc sử dụng để tranh chấp với Việt Nam.
17. Căn cứ những tài liệu khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải là vô chủ mà thuộc quyền quản lý  của Việt Nam từ Triều đình nhà Thanh của Bị đơn  lúc đó đang hùng mạnh, độc lập và Triều đình Nguyễn của Nguyên đơn  độc lập.


III. Yêu cầu Tòa án Quốc tế căn cứ thẩm quyền theo điều 288 và 290 :

1.   Chấp nhận xem xét  Đơn kiện của Nguyên đơn về việc đòi chủ quyền 2 quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa với Bị đơn là Cộng hòa Nhân Dân Trung Quốc.
2.    Lập ban giám định lại thực trạng về 2 quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa để định chuẩn lại theo tiêu chuẩn quốc tế về vị trí, các loại : « mỏm đá » ; « bãi cạn » ;  « đảo đá thích hợp cho con người sinh sống »; « đảo đá không thích hợp cho con người sinh sống » để đưa ra quyết định phù hợp giữ nguyên hiện trạng bằng hòa bình cho đến ngày phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp lý.

Hồ sơ gửi kèm:

1. Coppy các văn bản pháp lý công nhận tư cách nhà nước  lẫn nhau của      Nguyên đơn và Bị đơn
3.   Coppy các văn bằng,bản đồ chiếu chỉ về quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của các nhà nước Việt Nam .
3. Coppy những tài liệu, bằng chứng phía Bị đơn Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa  dùng các hành vi vũ lực để tranh chấp, phá hoại từ 1974 đến nay

4. Coppy những nhận định, phản ứng và kết luận của những chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác nhau, của các chính khách, phát ngôn của các quốc gia về mối đe dọa hòa bình  đã , đang và sẽ xảy ra từ việc chưa có  kết quả phân xử tranh chấp này .

                       Nguyên đơn : Việt Nam

        Như vậy, dùng tất cả các cơ sở pháp lý, bằng chứng và nêu rõ vấn đề  được chuẩn bị trong nội dung trên  liên hệ chặt chẽ, hệ thống với nhau, phía Việt Nam sẽ thắng lợi trong việc công nhận Quốc tế về tư cách chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.  (Phần B là những tài liệu , phân tích tài liệu tiếp sau )